The business consulting company

GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ VÀ GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KINH DOANH: NHỮNG HỆ LỤY VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

Nguyễn Thị Huỳnh – Nguyễn Văn Bảy

ATIM Consulting - 11/2011

Một tình huống thực tế.

Tháng 4/2007, Công Ty Cổ Phần A (Công Ty A) có vốn điều lệ là 600 tỷ đồng, kinh doanh bất động sản, được thành lập tại tỉnh B. Công Ty A có 4 cổ đông sáng lập. Trong đó, có một cổ đông là cá nhân có quốc tịch Mỹ, sở hữu 51% vốn điều lệ. Vì thế, Công Ty A được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD) cho việc thành lập công ty và đăng ký dự án đầu tư.

Tháng 1/2010, cổ đông là cá nhân có quốc tịch Mỹ chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của mình cho một cá nhân người Việt Nam. Công Ty A nộp hồ sơ đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập và xin tách riêng GCNĐT thành GCNĐKKD riêng cho việc đăng ký doanh nghiệp và GCNĐT cho dự án đầu tư. Lý do Công Ty A đưa ra là sau khi cổ đông quốc tịch Mỹ chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của mình cho người Việt Nam thì Công Ty A đã chuyển thành công ty 100% vốn trong nước, nên theo đó, thủ tục và thẩm quyền đăng ký thay đổi các nội dung liên quan đến doanh nghiệp (thuộc Sở Kế Hoạch và Đầu Tư của Tỉnh B) và các nội dung liên quan đến dự án đầu tư (thuộc UBND tỉnh B) là khác nhau nên việc xin tách riêng hai loại giấy này sẽ tạo thuận lợi cho Công Ty A trong cũng như cơ quan nhà nước tỉnh B trong việc thực hiện các thủ tục nói trên.

SKHĐT và UBND Tỉnh B rất lúng túng trong việc giải quyết yêu cầu trên của Công Ty A vì Luật Doanh Nghiệp và Luật ĐầuTư không có quy định thủ tục để thực hiện việc này.

Sự chồng chéo về chức năng GCNĐKKD và GCNĐT và sự thiếu sót trong quy định pháp luật.

Chúng tôi cho rằng vướng mắc trên của Công Ty A bắt nguồn từ sự chồng chéo về chức năng của GCNĐKKD và GCNĐT và sự thiếu sót trong quy định pháp luật. Theo quy định của LDN và LĐT thì:

- Nếu một công ty là thuộc 100% vốn trong nước thì công ty này sẽ được SKHĐT cấp tỉnh cấp một GCNĐKKD theo quy định của LDN, chứng nhận cho việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung trên GCNĐKKD là những thông tin chi tiết về doanh nghiệp gồm các thông tin liên quan đến tên, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện; thông tin chi tiết của người đại diện theo pháp luật và cổ đông sáng lập; vốn điều lệ, cổ phần; và ngành, nghề kinh doanh. Nếu công ty có dự án đầu tư thuộc trường hợp đăng ký hoặc thẩm tra đầu tư theo LĐT thì sẽ được UBND cấp tỉnh cấp một GCNĐT chứng nhận cho một dự án đầu tư cụ thể do công ty này làm chủ đầu tư. Nội dung trên GCNĐT gồm các thông tin chi tiết về dự án đầu tư gồm các thông tin chi tiết về dự án đầu tư như tên, địa chỉ của nhà đầu tư; địa điểm thực hiện dự án đầu tư; nhu cầu diện tích đất sử dụng; mục tiêu, quy mô dự án đầu tư; tổng vốn đầu tư; thời hạn và tiến độ thực hiện dự án; và các ưu đãi đầu tư. Ngoài ra công ty cũng có quyền lựa chọn hoặc được cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD hoặc một GCNĐKKD và một GCNĐT riêng nếu thành lập doanh nghiệp đồng thời với việc đăng ký dự án đầu tư.

- Nếu là công ty có vốn đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam thì phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư để được UBND cấp tỉnh cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD.

Như vây, có hai trường hợp một công ty sẽ được cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD, thứ nhất là công ty có vốn đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam và thứ hai là công ty trong nước thành lập doanh nghiệp cùng lúc với việc đăng ký dự án đầu tư lựa chọn việc cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD. Trong hai trường hợp này, GCNĐT ngoài việc chứng nhận cho dự án đầu tư còn chứng nhận cho việc thành lập doanh nghiệp. UBND cấp tỉnh ngoài thẩm quyền cấp GCNĐT còn thực hiện luôn cả việc đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, việc mà đáng ra thuộc về SKHĐT. Có thể mục đích chính của nhà làm luật là nhằm đơn giản hóa thủ tục. Tuy nhiên, chưa xét đến việc có tồn tại mâu thuẫn hay sự bất hợp lí nào của các quy định này, thì đây cũng đã được xem là sự “lấn sân” của LĐT lên phạm vi điều chỉnh của LDN. Vì vậy, khi thực hiện trên thực tế, nhiều vấn đề đã phát sinh chưa được quy định rõ trong luật dẫn đến các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp bế tắc trong việc thực hiện, hoặc tạo thêm nhiều thủ tục phiền hà hơn cho doanh nghiệp, cụ thể:

- Như đã biết, UBND cấp tỉnh là cơ quan cấp GCNĐT đồng thời là GCNĐKD. Vì vậy, mọi sửa đổi, bổ sung liên quan đến GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD này, kể cả những thay đổi đơn thuần về mặt doanh nghiệp không liên quan gì đến dự án, cũng phải đăng ký với UBND cấp tỉnh. Thủ tục này phức tạp và mất nhiều thời gian hơn so với thủ tục thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thực hiện tại SKHĐT. Rõ ràng, sự đơn giản hóa thủ tục này thực tế đã kéo theo rất nhiều khó khăn và tốn kém cho doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lí nhà nước. Hơn nữa, việc phân tán chức năng đăng kí kinh doanh trong điều kiện chưa thống nhất mẫu biểu và chưa chuẩn mực hóa hệ thống nghiệp vụ đăng kí kinh doanh và hệ thống thông tin về doanh nghiệp đã phân tán dữ liệu thông tin doanh nghiệp, điều này gây ra sự không thống nhất về mã số doanh nghiệp, không thống nhất được cả nội dung và hình thức của GCNĐKKD, gián tiếp gây thêm khó khăn cho công tác quản lí của nhà nước đối với các doanh nhiệp.

- Nếu GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD thì sự tồn tại của công ty có phụ thuộc vào sự tồn tại của dự án hay không vì theo quy định tại Điều 40.1 NĐ 102, doanh nghiệp sẽ bị giải thể khi bị thu hồi GCNĐT?. Điều này có áp dụng trong trường hợp công ty đó có nhiều hơn một dự án đầu tư hay không? Thiết nghĩ nên quy định rõ Điều 40.1, NĐ 102 chỉ áp dụng trong trường hợp công ty có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có một dự án đầu tư duy nhất.

- Nếu trong quá trình hoạt động, do sự chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trở thành công ty 100% vốn trong nước như trường hợp của Công Ty A thì công ty này có phải thực hiện thủ tục chuyển đổi từ GCNĐT thành GCNĐKKD cho doanh nghiệp và GCNĐT cho dự án hay không, thủ tục thực hiện thế nào? Các vấn đề này chưa được quy định rõ trong luật.

- Ngược lại, nếu công ty 100% vốn trong nước trở thành công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thì công ty có buộc phải thực hiện thủ tục đổi từ GCNĐKKD thành GCNĐT hay được giữ lại GCNĐKKD và xin cấp thêm GCNĐT, thủ tục để thực hiện? Những vấn đề này đang còn bỏ ngõ trong luật. Trên thực tế, trong trường hợp này, một số địa phương vẫn yêu cầu công ty đăng ký dự án đầu tư để xin cấp GCNĐT, và thu hồi lại GCNĐKKD. Tuy nhiên, yêu cầu này cũng không có cơ sở pháp lý rõ ràng và gây nhiều tranh cãi.

Các quan điểm

Để giải quyết các hệ lụy phát sinh, có rất nhiều quan điểm của các chủ doanh nghiệp và các luật sư nhất trí với việc nên tách riêng GCNĐKKD và GCNĐT với những luận điểm xác đáng nhưng tựu chung lại vẫn là không thể đánh đồng hai loại giấy này làm một vì tính chất pháp lý của chúng hoàn toàn khác nhau. GCNĐKKD xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, trong khi GCNĐT chỉ xác lập tính hợp pháp cho một hành vi kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, một doanh nghiệp có thể có nhiều GCNĐT nhưng chỉ có một GCNĐKKD.

Thực tế áp dụng pháp luật

Với trường hợp của Công Ty A ở trên, SKHĐT và UBND tỉnh B rất lúng túng trong việc hướng dẫn doanh nghiệp vì không được quy định rõ ràng. Họ chọn cách an toàn là xin ý kiến hướng dẫn của các cơ quan quản lý cấp trên. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, dưới gốc độ pháp lý, các cơ quan quản lý nhà nước nên có văn bản hướng dẫn áp dụng chung cho các vấn đề này.


Tiêu Điểm

Trợ lý đắc lực cho quyết định kinh doanh của bạn

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player


Văn Bản Pháp Luật

Luôn cập nhật những thông tin pháp lý mới nhất

document